Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Vẫn tinh ma những hành khúc bất hủ.

Tượng đài âm nhạc Lưu Hữu Phước được vun đắp bởi những hành khúc bất hủ, nên ít người biết rằng Lưu Hữu Phước thuở hai mươi viết nhiều ca khúc trữ tình

Vẫn rực rỡ những hành khúc bất hủ

Và chẳng bao lâu sau, ngày Nam Kỳ khởi nghĩa 23-8-1945, Lưu Hữu Phước đã đứng chung với niềm vui của đồng bào mình bằng bài hát “Khúc khải hoàn”.

Năm 1947, khi lần trước nhất được gặp Bác Hồ trên đất Bắc, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác “Lãnh tụ ca” có phần lời viết chung với nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Sau 20 năm công tác ở Hà Nội, Lưu Hữu Phước quay về miền Nam giữ chức Bộ trưởng Văn hóa của Chính phủ Cách mạng trợ thời miền Nam Việt Nam.

Có nhẽ đến một lúc nào đó, công chúng không chỉ tôn cố Giáo sư - Viện sĩ Lưu Hữu Phước bằng những hành khúc rộn ràng hùng tráng, mà còn nhớ về nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thời trai trẻ lãng mạn từng có giây phút xao xuyến một mỹ nhân cố đô khi viết “Hương giang dạ khúc” với nhạc điệu đắm say: “Làn hương thu mờ trong bóng chiều, vờn run ánh ngà, nhẹ đưa đưa xa… Làn hương ơi, làn hương mờ xóa bóng ai yêu kiều trong mơ…"     Ngoa ngôn một tẹo, có thể khẳng định Lưu Hữu Phước là ông vua thể loại hành khúc ở Việt Nam.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước   Nếu có dịp đặt chân về Ô Môn, chứng kiến sự bình yên của dằng dịt sông ngòi và sự cặm cụi chân chất của nông dân, thì bằng suy luận thường ngày kiên cố không ai lý giải được, vì sao cậu bé Lưu Hữu Phước ngày nào chỉ được cha dạy cho chơi đàn kìm bên rạch Bằng Lăng lại có thể tự mày mò học hỏi để theo đuổi và thành công ở thể loại hành khúc vốn chỉ quen thuộc với âm nhạc phương Tây.

Bên cạnh vài bài tha thiết ngóng trông đôi lứa như “Trên sông Hương” hay “Ai nhớ ai”, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã gửi gắm một mối tình chia cách lỡ dở của mình qua bài hát “Hương giang dạ khúc”. Vẫn mạch cảm xúc ấy, sau khi ra Hà Nội học Đại học Y Dược, Lưu Hữu Phước nối có thêm các tác phẩm trứ danh như “Ải Chi Lăng”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Hờn sông Gianh”, “Tiếng gọi thanh niên”, “Hồn tử sĩ”… Năm 1944, Lưu Hữu Phước dự Mặt trận Việt Minh và quyết định trường đoản cú giấc mơ bác sĩ để trở lại miền Nam đấu tranh.

Âm nhạc trở nên thứ khí giới sắc bén mà Lưu Hữu Phước đóng góp cho ngày sơn hà thống nhất.

Tức thị, sự nghiệm âm nhạc của Lưu Hữu Phước đã được nhón ngay từ khi còn ngồi ghế trường College nơi quê nhà. Năm 1946, Lưu Hữu Phước được điều động ra miền Bắc nhận nhiệm vụ mới. Hành khúc của Lưu Hữu Phước không chỉ làm rường cột cho âm nhạc nước nhà, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến phong cách sáng tác của nhiều lớp nhạc sĩ cận kề.

Thế nhưng, hãy lưu ý, Lưu Hữu Phước không chỉ có hành khúc. Ngoài những công trình khoa học chuyên sâu về âm nhạc dân tộc, Lưu Hữu Phước còn có nhiều vở ca kịch giàu biểu cảm như “Tục lụy”, “Phá mưu bù nhìn” hoặc “Diệt sói lang”.

Dù đảm nhiệm nhiều vai trò quản lý bận rộn, nhưng âm nhạc của ông cũng vang lên với nhiều đề tài khác nhau như “Thiếu nhi thế giới liên hoan”, “Cả thế cuộc về ta” hay “nông dân vươn mình”. Năm 1969, khi ở miền Nam nghe tin Bác Hồ mất, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác “Tình Bác sáng đời ta” có phần lời viết chung với thi sĩ Diệp Minh Tuyền.

Ở Sài Gòn những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ 20, Lưu Hữu Phước đã kết bạn tri kỷ với hai người bạn đồng môn Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ tạo thành nhóm Huỳnh Mai Lưu lừng danh.

Hồ hết các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định, 10 năm từ 1965 đến 1975 là khoảng thời kì Lưu Hữu Phước sáng tác nhiều nhất và hay nhất, mà công chúng có thể kể “Dưới cờ Đảng vẻ vang”, “Giờ hành động”, “Bài hát phóng thích quân”, “Hành khúc phóng thích”, “Xuống đường”… Đặc biệt, bằng tâm sự của một anh tài lớn, Lưu Hữu Phước đã viết trước “giải phóng miền Nam” và “Tiếng về Sài Gòn” để hai ca khúc này theo chân những đoàn quân hẳm hở đi đến ngày 30/4 đại thắng! Về đề tài Bác Hồ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có hai ca khúc viết cách nhau 22 năm nhưng đều có sức lan tỏa vào đời sống quần chúng.

Quyết tâm ấy được ông mô tả qua ba sáng tác công bố ngày rời Hà Nội là “Xếp bút nghiên”, “Mau về Nam” và “Gieo ánh sáng”. Có nhẽ thế hệ sau ngầm hiểu với nhau một cách đơn giản rằng, chính phép cộng giữa nhân tài thiên tính và ý thức yêu nước đã giúp Lưu Hữu Phước viết nên những hành khúc sôi nổi và thúc giục như “Lên đàng”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Tiến về Sài Gòn”… Nhìn lại lộ trình sáng tạo miệt mài và tâm huyết của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thật không khó để nhận ra một điều huých: trong hành trang mà cậu học sinh 16 tuổi Lưu Hữu Phước rời Cần Thơ lên Sài Gòn để theo học Trường trung học Trương Vĩnh Ký đã có bản thảo ca khúc đầu tay “Non sông gấm vóc”.

Chính tuổi, Lưu Hữu Phước đã hứng khởi viết nhiều ca khúc kêu gọi ý thức nguồn cội cho tuổi xanh mà vượt trội là “Bạch Đằng giang” được sáng tác vào năm 1940.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét