Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Sống là Nhân, chết chiêm ngưỡng là Thần.

Danh tiếng ông gắn liền với thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, những bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc

Sống là Nhân, chết là Thần

Năm 1935  , ông hôn phối với bà Nguyễn Thị Quang Thái, bạn học tại trường Quốc học Huế, một Đảng viên Cộng sản, em ruột nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai.

Sau này thì tôi nghiệm ra rằng, những vị tướng điềm nhiên bước vào huyền thoại dân gian thuộc số không nhiều trên thế giới. Không khó gì để tôi vượt qua mấy chục cây số đường rừng đã được nâng cấp từ lối mòn xưa nhưng vẫn đủ cho cảm giác là con đường quân sự, đến với địa danh Mường Phăng. Năm 1946  , ông lập gia đình với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).

Tôi tin chắc rằng, ngoài sức ép đồ sộ như đã nói, ông còn chịu sức ép từ chính những đồng chí, cấp dưới của ông? Họ cần ở ông một sự giải thích khiến họ bị thuyết phục.

Tôi muốn thấy lịch sử, thay vì chỉ đọc hoặc nghe; tôi muốn tự mình khám phá, thay vì phải qua chỉ dẫn, tức là qua bộ lọc khác; tôi muốn lý giải, thay vì dựa vào thứ có sẵn.

Không biết cái đêm kinh hoàng ấy bằng Bao nhiêu phần cuộc thế ông? Chắc nó phải rất dài, rất khủng khiếp. Tuy vậy, việc đến Điện Biên muộn của tôi-chắc chắn là có lỗi-nhưng không chỉ hoàn toàn dở, mà cũng có cái hay. Sức mạnh vượt trội về mọi mặt của đội quân xâm lăng ở thời điểm ấy là điều không cần phải nghi. Một phần lý do đó chính là nghệ thuật tháo lui của người Việt.

Đó là một đêm lịch sử Việt Nam và thế giới quyết định ghi danh ông là nhân kiệt quân sự. Đơn giản vì ông không định làm tướng. Từ Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, đến Nguyễn Trãi, sau này là vua Quang Trung… đều sử dụng thành thạo diệu pháp đó. Không thể tính xuể số trang sách đã, đang và sẽ còn viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Như những chuyện bố tôi kể lại, đa số do ông nghe từ người khác, thì vị đại tướng hiện lên bằng vô số huyền thoại mang mầu sắc phép thuật. Ngày 25/1/1948  , ông được phong Đại tướng.

Khen nghĩa là đề cao. Những gì tôi thấy căn bản giống như những gì tôi nghe kể hoặc đọc được. Trong một thời gian ngắn từ tháng 7/1960 đến tháng 1/1963, ông kiêm thêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Tuy chỉ một đêm, nhưng nó là bao la thời gian, dằng dặc lịch sử và bất tận về nỗi cô đơn con người.

Điều đó cũng giống như chẳng thể nào suy đoán được dân tộc này còn có những bảo vật gì để giúp họ trường tồn. Cuối tháng 3/1945  , ông đưa đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu Quốc quân của Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam phóng thích Quân.

Tháng 8/1945, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mệnh Bắc Kỳ, làm tổng chỉ huy các đội Việt Nam Giải Phóng Quân và Ủy viên Ban chỉ huy tạm khu phóng thích Việt Bắc. Cùng chung tâm trạng với hàng triệu người, tôi cảm thấy trống trải thương tiếc và lo lắng.

Nó được kể lại rất thiên nhiên rồi cứ vậy mà lan truyền từ người này sang người khác. Khi tắt nghỉ họ hóa thần, tiếp kiến giáo hóa và trấn ải, dọn dẹp lãnh thổ cho các đời con cháu. Cái thở phào của người cuối cùng cũng đã làm được thứ công việc mà mình thấy cần làm.

Tiếc thay cho đến nay chưa có cuốn sách, bộ phim nào lấy chủ đề về cái đêm định mệnh ấy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm đề tài. Có thể đếm được tên họ trên mười đầu ngón tay và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm trong số đó. Họ thường đến như đi vào chỗ không người. Phần lịch sử hấp dẫn nhất đã dừng lại để bắt đầu đời sống của huyền thoại.

Người mặc binh phục, tôi nhớ không lầm thì là mầu trắng, đội mũ nhà binh, cũng mầu trắng, cặp mắt bên dưới vành mũ như phải nheo bớt lại để người nhìn vào khỏi bị chói, quân hàm quân hiệu tề chỉnh, được chú giải bên dưới là  Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vì nhiều lý do mà mãi tận khi đã ở tuổi “Tri thiên mệnh”, tôi mới lần đầu đến thăm Điện Biên.

Một bộ mặt trẻ, nghiêm túc bởi bộ quân phục nhưng không che được nét thư sinh, nhân hậu của một cha nội, mặc dầu như khi lớn thêm chút nữa tôi mới biết ông đã dẫn dắt một nhóm vũ trang lúc đầu chỉ có 34 người, trang phục thập cẩm, rách rưới, vũ khí thô sơ và bị người Pháp cười nhạo là “mấy tên giặc cỏ”, thành đội quân đủ sức xóa xổ huyền thoại về những gã viễn chinh nhà nghề khổng lồ của châu Âu, châu Mỹ lúc bấy giờ và cả giờ.

Mọi ý muốn tôi đều thực hành được. Không bao giờ và không ai trên đời có thể truy nguyên khởi nguồn của những câu chuyện vô cùng hấp dẫn và luôn kích thích trí tò mò ấy. Lịch sử đương đại Việt Nam không thể thiếu cái đêm ấy, như một dấu mốc vĩ đại. Họ nhập cuộc đời họ vào trong mỗi tâm hồn con cháu, truyền mãi cái ý chí trường tồn để nó không bao giờ bị bất cứ quân thù nào làm cho nhụt chí.

“Lịch sử” đã bằng phẳng, quang, đơn giản đi hàng trăm lần, khó mà mường tưởng lại được.

Điều đó trong phần đông trường hợp là bất khả kháng. Ông bảo với tôi rằng, không đến Điện Biên thì  “thế cuộc cậu coi như là đồ bỏ đi, còn nếu lần đầu đi Điện Biên mà bằng phi cơ thì tôi khuyên cậu ở nhà!”. Trên thực tế những viên tướng ấy thực thụ là tinh hoa của nước Pháp. Bởi vậy, với những đứa trẻ chúng tôi, ông giống như vị tướng nhà trời. Nếu vì cuộc rút lui ấy mà sau đó Điện Biên thất bại, tất cả quân ta bị diệt, quờ quạng xương máu, của cải mà cả dân tộc đổ ra trong suốt 9 năm ròng chả có nghĩa lý gì, thì điều gì sẽ đến với ông? Ông thừa sức để mường tượng ra cái bản án hoảng hồn đó.

Tôi vẫn nhớ rất rõ cái cảm giác khi chạm vào thung lũng Điện Biên-qua thuyết minh của một anh bạn từng sinh sống suốt thời thanh niên ở đó- là tôi thấy tâm hồn có một sự nhẹ nhàng qua cái thở phào. Chỉ có điều, muốn nói gì thì nói, nó quá muộn so với tuổi và nghề của tôi.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp  Ngày nào, trước khi bước vào nhà, lúc ngồi ăn cơm hay có chuyện vui đùa, tôi cũng đều thấy các vị. Nhưng đấy là khi mọi thứ đã an bài và các sử gia có điều kiện ngồi trong phòng trà để suy luận và tranh cãi

Sống là Nhân, chết là Thần

Tháng 6/1950, theo quyết nghị của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, ông giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh, Tổng Chính ủy bí thơ Quân ủy Trung ương. Ông chỉ muốn làm một người quảng bá tình con người, ái tình sơn hà, tình ái tự nhiên. Đương nhiên chả ai dám cãi bố nhưng nếu được đính chính thì tôi muốn nói thêm cho đầy đủ: Ông là vị tướng tài có khuôn mặt rất hiền hậu.

Cái thở phào chính tôi cũng thấy bất ngờ. Những gì gắn với trận đánh Điện Biên lịch sử, gắn với vị Đại tướng nổi tiếng còn giữ lại khá tốt về vẻ bên ngoài. Năm 1942, bà bị đày đi khám đường Hỏa Lò (Hà Nội) rồi tạ thế. Hành hương khác với đi trẩy hội thường nhật ở chỗ sự mệt nhọc thể xác cũng là một giá trị).

Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông thực hành nhiệm vụ xây dựng Quân đội quần chúng. Những cảm nhận, suy tư không còn xốc nổi, bốc đồng hoặc cũng bớt đi phần chủ quan hay cực đoan. Tận những ngày cuối của cuộc đời, ông vẫn cho thấy một sự kiên nhẫn phi thường khi sống với triết lý phải thương yêu con người, phải thương yêu giống nòi, phải giữ gìn thứ quý báu nhất là độc lập.

Ông ra Hà Nội. Hai người ngụ tại một ngôi nhà ở phố Đường Thành, sau chuyển sang phố Nam Ngư, Hà Nội. Có lẽ bức ảnh ông chụp sau hòa bình nên có thể suy ra người trong ảnh tầm 45 tuổi. Năm 1991  , Đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80. Và tôi đã làm theo lời khuyên của ông. # Việt Nam ngày nay). Hơn hết, họ văng mạng trong ký ức quần chúng. Nhưng hiểu tâm trạng của ông lại hoàn toàn là điều có thể.

Chiến thắng, dù với cái giá nào, đã đảm bảo cho nhân tài và sự đúng đắn trong cách dùng binh của ông ta. Trên thực tế, có rất ít nghiên cứu nghiêm chỉnh nào của phía kẻ thù quan hoài đến lý do chết của họ mỗi khi đặt chân lên mảnh đất này. Nhưng tại sao những mật truyền ấy lại chọn ông chứ không phải ai khác, là điều vĩnh viễn nằm ngoài mọi suy đoán. Cứ thế năm này qua năm khác.

Rốt cục bí hiểm lớn nhất còn lại mà tôi đối mặt, có nhẽ cũng thuộc về bí mật của lịch sử, chính là tài chỉ huy quân sự của  Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1925  , 14 tuổi, ông bắt đầu hoạt động cách mạng. Thực ra đó cũng là gợi ý của một nhà sử học tên tuổi, khi ông biết tôi sẽ đi Điện Biên. Thử xem trong tay vị tướng ngoài 40 tuổi, xuất thân là phụ thân dậy lịch sử của chúng ta có gì? Ông không hề qua bất cứ trường đào tạo quân sự nào.

Mọi người chỉ thấy Nguyễn Huệ tuấn kiệt vì chưa đầy tuần lễ ông đã quét sạch mấy mươi vạn quân Thanh, mà không thấy chỗ thiên tài hơn của ông là khen kế lui binh về Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm.

Bố tôi nói điều đó bằng vẻ nghiêm chỉnh của một người lính. Cuối năm 1931  , nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, ông được thả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế. Tuy vậy, ngoài cảm giác lịch sử vẫn hiện diện cùng với sự thanh tĩnh của thời gian, nó không giúp gì cho tôi trong việc cố gắng mường tưởng lại một phần tính chất ác liệt của những quyết định, phần lớn là mang tính cá nhân chủ nghĩa, của vị tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp.

Còn ở vào khoảnh khắc phải đưa ra quyết định ấy, giữa nơi chiến địa mịt mùng, chỉ một mình vị đại tướng của chúng ta gánh chịu quơ sức nặng của lịch sử, liệu ngoài ông ra có ai đủ can tràng để ưng? Ông thừa biết với quyết định ấy, ông phải đối mặt với hàng ngàn phán xét đang chờ để giáng xuống.

Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, chủ toạ Hồ Chí Minh đã ủy nhiệm ông đứng ra tuyên bố thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền phóng thích Quân (tiền thân của Quân đội quần chúng. # Và tiếp tục làm mướn việc chở che cho họ. Với cá nhân chủ nghĩa tôi, ông thuộc về số những nhân-thần của đất nước, những người có sứ mạng (hoặc được cha ông giao cho nhiệm vụ) bảo trợ cho cương vực này.

Chẳng thể kể hết những danh hiệu mà trần gian gùi ông. Nhưng một vị tướng lỗi lạc không chỉ nghĩ đến thắng lợi cuối cùng, mà còn nghĩ đến, thậm chí quan yếu hơn cả thắng lợi, sự bảo toàn tối đa sinh mạng của hàng vạn hàng triệu binh lính và dân thường.

Nó được điều hành bởi một bộ máy chiến tranh hoàn hảo xuyên Đại Tây dương, trực tiếp đặt dưới sự chỉ huy của những viên tướng dày dạn tri thức quân sự cũng như trận mạc. Quyết định rút tất lực lượng pháo binh và bộ binh của ông, thay phương án “đánh nhanh thắng nhanh”, bằng phương án tiếp cận từ từ, bao vây để chắc thắng, đã được lịch sử chứng minh là tài năng.

Giờ đây con người vĩ đại đó đã giã biệt nhân gian, nơi ông đóng vai bảo trợ cho hòa bình, cho những chuẩn mực sống không thể thiếu để có một xã hội đàng hoàng. Chả hạn khi đọc những trình bày về cuộc giằng co khốc liệt giữa quân ta và quân viễn chinh Pháp trên từng mét hào; chuyện về từng đoàn quân ta bám nhau bò lên đánh chiếm đỉnh đồi giữa mưa đạn của địch; chuyện quân Pháp bị khối thuốc nổ nặng một tấn khiến nhiều tên vỡ màng tai; chuyện tướng, lính đội quân viễn chinh lốc nhốc ra hàng… tôi chỉ thấy bừng bừng tự hào, thậm chí còn không giấu được niềm hích.

Khi sống họ là hiền nhân, là võ tướng. Mỗi người phải tự mình trải nghiệm thì mới có cho mình câu đáp.

Ngày 19/12/1946  , chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Ông viết hàng trăm bài báo; gần 100 bản luận văn có giá trị trên nhiều lĩnh vực; đặc biệt, ông viết nhiều sách văn chương.

Ông liên tục đảm nhận những chức phận trên trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975).

Tôi chẳng thể giảng giải đơn giản về điều đó với độc giả. Tôi đã đứng trong căn hầm đại tướng, thử đặt mình vào hoàn cảnh của ông và tự thấy không còn gì lố bịch và nực cười cho bằng.

Bao nhiêu hồi hộp khi biển chỉ dẫn sắp đến “dốc Pha Din” hóa ra chỉ còn vương lại trong thơ Tố Hữu

Sống là Nhân, chết là Thần

Chuyến đi thăm Điện Biên cách nay ba năm của tôi chính là trong tâm cảnh ấy. Thắng lợi Điện Biên được 5 năm tôi mới có mặt trên thế giới này. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giữ và bị giam ở nhà giam Thừa phủ (Huế) vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Rất ít vị tướng nào khiến kẻ thù khốn đốn nhưng lại nhận được lòng kính trọng từ phía họ, thay vì niềm căm thù, như đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ông đã thị phạm những đạo lý lớn lao đó bằng chính cuộc sống của mình. Giờ đây đến lượt Võ Nguyên Giáp. Đến mỗi người, lại có thêm những tình tiết ly kỳ mới. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc tranh đấu vũ trang kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) với cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh Quân đội kiêm bí thơ Tổng Quân ủy.

Nhưng khi im lặng đứng trên đỉnh đồi A1, giữa lúc chiều tà, không một lời thuyết minh hùng hồn, không có bất cứ ai rót vào tai câu chuyện đã thuộc lầu, chỉ nhìn xuôi xuống theo những vệt mòn thời kì, nước mắt tôi cứ chảy ra không sao kìm được.

Điều đó không còn gì phải nghi ngoài một vài khác biệt về xúc cảm. Khỏi phải nói thái độ cung kính ra sao của bố tôi mỗi khi nhắc về ông, trong bất kể văn cảnh nào. Năm 1980  , ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp là Ủy viên Bộ Chính trị (đến năm 1982) và Phó Thủ tướng đảm trách Khoa học - Kỹ thuật.

Hãy để cho đời sau cảm nhận được một phần cái khấp khểnh, hiểm trở của một thời. Hoặc khi chui vào căn hầm chỉ huy của viên tướng chiến bại Đờ-cát, thay vì bái phục sự chắc chắn, bí ẩn của những vòng thép như cảm giác hồi bé nhìn qua ảnh chụp, thì tôi chỉ cứ muốn cười phá lên.

Nhà sử học này thường nhật khá lịch duyệt nhưng đôi khi cũng rất “ác khẩu” nếu thấy cần phải làm thế. Năm 1940  , với bí danh là Dương Hoài Nam, ông vượt biên sang Trung Quốc để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Chúng tôi quyết định đi theo đường bộ là có ý muốn được trải nghiệm lại-dù chỉ là trong hình dong- chính hành trình các cụ ta xưa hành quân, tải đạn, tải gạo… để Tố Hữu có tư liệu và cảm hứng khi viết: “  Dốc Pha-Din chị ghánh anh thồ/đèo Lũng Lô anh hò chị hát/dù bom đạn xương tan thịt nát/không thoái chí, không tiếc tuổi xanh”.

Tháng 12/1944, ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trao nhiệm vụ thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân. Còn tại thời điểm ngày ngày ông từ trên cao nhìn đám trẻ chúng tôi như một vị bảo trợ cho hòa bình, thì tôi chỉ biết qua lời giảng giải ngắn gọn của bố: Ông là vị tướng tài.

Cũng không có dấu hiệu cho thấy ông có khiếu chỉ huy chiến tranh. (Giờ nghe nói con đường này đã mở mang (hoặc có kế hoạch mở mang để phục vụ khách tham quan được thuận tiện và nếu thế thì thật đáng tiếc hơn là đáng mừng, đáng trách hơn là đáng biểu dương.

Ông gọi những người thua cuộc là “quân thù danh dự”. Ông cũng biết rõ như vậy, rằng có những điều không thể chia sẻ bởi chính bản thân ông cũng không sẵn tiếng nói thường nhật để biểu lộ.

Những gì mà tuổi xanh thường lướt qua-vì quỹ thời kì còn nhiều, chẳng đi đâu mà vội-thì ở tuổi trung niên bán phần về già có khuynh hướng quan hoài cặn kẽ theo kiểu muốn tìm ra một kết luận, chí ít cũng cho riêng mình.

Năm 1942  , ông đảm trách ban "Xung phong Nam tiến’’. Có thể là do ám ảnh về địa danh Điện Biên đã hành tội tôi quá lâu. Những dấu mốc trong thế cục đại tướng Võ Nguyên Giáp  Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, quê ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Nhưng về cơ bản thì chúng tôi-và cả nhà sử học khuyên tôi-đã thất bại, bởi đường lên Điện Biên giờ thuộc số những con đường miền núi tốt nhất, đẹp nhất, dễ đi nhất Việt Nam. Vèo một cái xe đã ở phía bên kia đèo, thậm chí còn chưa kịp hát hết vài câu. Trong lịch sử nhân loại, ít có thủ đô nào lại bị bỏ trống nhiều như Hà Nội mỗi lần giặc tràn vào. Ông hoạt động đấu tranh cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai và dạy Sử - Địa ở trường dân lập Thăng Long.

Những người đã hóa thần nghĩa là không bao giờ chết. Năm 1929, ông dự cải tổ Tân Việt cách mệnh Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Nhưng, thay vì hưởng niềm quang vinh thắng lợi, thời gian còn lại, họ chỉ loay hoay với mỗi việc là tìm cách cuốn gói cho êm và cho đỡ ngượng mặt.

Họ sẽ luôn có mặt trong mỗi gia đình, lành quê thăng bình. Từ hình hài bề ngoài đến tính cách của ông đều không hợp cho việc làm tướng trận.

Cứ vào các tài liệu lịch sử thì vị đại tướng của chúng ta đã mất trắng một đêm để có cái quyết định lịch sử ấy. # Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của Quân đội dân chúng trong chiến tranh.

Nhưng những gì tôi biết về ông, kể cả vai trò quyết định của ông trong thắng lợi mùa xuân năm 1975, là chuyện của sau này, khi tôi tò mò khám phá lịch sử. Còn khi tôi có mặt ở giữa cái trận mạc kinh khủng nhất thế giới một thời, thì những gì xứng đáng được ghi nhớ tại đó đã lùi lại 56 năm.

Ông cùng bất đắc dĩ mà phải cầm quân, vì sinh mệnh của tổ quốc Nhưng với bản tính của một nhà nhân bản chủ nghĩa, sớm muộn ông vẫn bồn chồn với tình yêu đồng loại. Tháng 5 năm 1941, trở về Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông cùng các cán bộ cao cấp khác xây dựng cơ sở cách mạng, lập ra trận mạc Việt Minh, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.

Nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi đến được với những cánh cửa mở vào thế giới bí hiểm còn lưu giữ ở nơi này. Do vậy có thể nói bộ mặt từng vị, tôi đều nhớ như in. Một vị tướng tài bình thường thì chỉ cần quan hoài đến chiến thắng.

Và với dân tộc này, phải biết sống bằng sự tha thứ. Con người và sự nghiệp của ông không chỉ tỏa sáng trẻ ranh trên lĩnh vực quân sự mà còn trên mặt trận văn hóa-tư tưởng và một số lĩnh vực khác. Ông chỉ có những kinh nghiệm mang tính mật truyền của lịch sử, được trao lại từ Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Ngô Thì Nhậm… Những nhà quân sự, chiến lược gia kỳ tài của tổ quốc.

Rút lui đã trở nên một bí hiểm quân sự của Việt Nam.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét