Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

GS Ngô Đức Thịnh: Người Việt từng rất những mạnh vì “biết mình, biết người”.

“Người Việt Nam ham học hỏi nhưng học để áp dụng

GS Ngô Đức Thịnh: Người Việt từng rất mạnh vì “biết mình, biết người”

Mất văn hóa nghĩa là mất sờ soạng  GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Sự bất khuất của dân tộc Việt Nam trong quá trình chống giặc ngoại xâm được vun đúc ngay từ sớm khi dân tộc Việt Nam đã phải sang những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Nhưng sau hết cái mà muốn nhấn mạnh ở đây là biết mình biết người”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết. Ngay từ khi chúng ta bước ra khỏi thời kỳ nguyên thủy thì bên cạnh chúng ta đã có những nền văn hóa đồ sộ là Trung Hoa và Ấn Độ.

Vì tinh hoa văn hóa Việt Nam nằm chính trong con người Việt Nam đó là tinh thần học hỏi và vận dụng. Lối sống duy tình, văn hóa cảm xúc khiến nhiều người không nhìn thẳng vào sự thực mà hoài nhớ quá khứ.

Nói đến tinh hoa văn hóa Việt Nam, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: văn hóa còn bao hàm nhiều ý là thái độ của con người với môi trường, thái độ con người với con người. Ngay từ trong lịch sử, để chống ngoại xâm chúng ta phải học kẻ thù để tăng cường sức mạnh cho mình. Nhưng bất cứ điều gì cũng có hai mặt của nó.

Kết tinh thảy những cái đó trở thành tinh hoa văn hóa dân tộc. Phải nói rằng người Việt Nam có năng lực rất lớn trong việc hấp thụ và sáng tạo để áp dụng vào thực tế – GS Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh. Thành ra theo GS Ngô Đức Thịnh việc bảo tàng văn hóa là phải song song hai giá trị vật thể và phi vật thể, cùng với đó không chỉ là bảo tàng mà phải phát huy nền văn hóa đó.

Xâu chuỗi đến ngày nay, bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, ý thức chống giặc ngoại xâm để xây dựng bảo vệ Việt Nam, đưa Việt Nam trở nên hùng cường, theo GS Ngô Đức Thịnh văn hóa chính là nền tảng ở đó chúng ta phải luôn “biết mình biết ta” biết đánh giá đúng cái hay cái dở của mình để phát triển. Lối sống duy tình khiến nhiều người Việt “hoài nhớ dĩ vãng”  GS Thịnh mong, nét văn hóa “thương người như thể thương thân”, sống thiên về tình cảm cũng là nét đẹp văn hóa Việt Nam.

# Hạn chế như chưa học đến nơi đến chốn, áp dụng tùy tiện… “Người Việt Nam không có năng lực sáng tạo ra cái gì đó thật lớn hoặc có những rất ít, điều đó không phải để nói thánh sư chúng ta kém mà vì hoàn cảnh lịch sử.

Văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng làm nên sức mạnh của dân tộc “như người ta vẫn nói mất nước đó là điều tai họa nhưng mất văn hóa còn tai họa hơn, mất nước nhưng bằng sự quyết tâm, kiên trì thì một nghìn năm sau chúng ta vẫn giành lại được nhưng mất văn hóa nghĩa là mất tất cả, mất văn hóa mất bản sắc sẽ không phân biệt giữa ta và và kẻ xâm lăng, giữa dân tộc này với dân tộc kia”, GS Ngô Đức Thịnh nói.

Theo GS Ngô Đức Thịnh, trong kí vãng Việt Nam từng giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vì chúng ta “biết mình – biết người”, hiểu mình mạnh và yếu gì để phát huy, khắc phục. Vốn quý nhất của dân tộc Việt Nam đó là nền văn hóa nhưng nói đến việc “giữ gìn bảo tồn văn hóa dân tộc”, hiện chúng ta mới chỉ quan tâm khôi phục, bảo tàng giá trị văn hóa vật thể là chủ yếu

GS Ngô Đức Thịnh: Người Việt từng rất mạnh vì “biết mình, biết người”

Tuy nhiên, trong quá trình hấp thu học hỏi cái mới người Việt Nam cũng trình diễn. Điều gì làm nên sự hùng cường một dân tộc, đó là văn hóa, bản sắc riêng không lẫn vào đâu được. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa cởi mở, không đóng kín.

Kể từ thời Hùng Vương, Việt Nam luôn đứng trước mối họa này, nên chi ngay từ ban sơ trong mỗi người Việt Nam hình thành chủ nghĩa yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm. “Tôi cho rằng có hai hình tượng rất đắt để nói về tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm trong văn hóa Việt Nam đó là Thánh Gióng và Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Đứng trước ngưỡng cửa tiến ra thế giới sức mạnh văn hóa dân tộc sẽ đưa con tàu Việt Nam tiến biển lớn nhờ cái “mỏ neo” văn hóa bền vững được xây dựng từ hơn 4. Hơn nữa trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm Việt Nam luôn ở thế kẻ yếu, “lấy yếu chống mạnh”, “lấy nhu thắng cương” đã trở thành sách lược chung để chống ngoại xâm. Giá trị văn hóa vật thể như đình, chùa, miếu, mạo cảnh quan tự nhiên là những thứ nhìn thấy được nhưng lâu nay việc bảo tồn khôi phục vẫn chưa tìm ra được phương sách hay dẫn đến di tích văn hóa bị hỏng, người dân xin trả di tích như tại Đường Lâm (Sơn Tây – Hà Nội)… “Trong khi đó các giá trị văn hóa phi vật thể không nên hiểu chỉ là những làn điệu dân ca, những câu hò, bản nhạc mà giá trị văn hóa phi vật thể còn là tinh thần yêu nước, bất khuất chống ngoại xâm ẩn chứa trong mỗi con người, hay thái độ sống của con người Việt Nam với nhau, văn hóa ứng xử… bít tất thứ đó nằm trong tâm não, tư tưởng phải ở hoàn cảnh lịch sử cụ thể mới được phát huy.

000 năm qua. Chính nhờ cái “mỏ neo” văn hóa, dân tộc Việt Nam đã qua bao thăng trầm lịch sử tuần tự thắng lợi những kẻ thù xâm lăng sừng sỏ nhất. “Mất văn hóa tức thị mất toàn bộ, mất văn hóa mất bản sắc sẽ không phân biệt giữa ta và địch…”, GS Ngô Đức Thịnh nhận định.

Trong kí vãng có thể “một sống một chết” với kẻ thù nhưng sau đó người Việt Nam vẫn sẵn sàng bắt tay xây dựng hòa bình với quân thù, đó là nét đẹp riêng chỉ có ở văn hóa Việt Nam mà không phải giang sơn nào cũng có được. Theo GS Thịnh, trong kho tàng giá trị văn hóa Việt Nam chia ra giá trị vật thể và phi vật thể.

Bởi vậy chẳng thể bắt tiên sư cha ta sáng tạo làm bộ làm tịch gì khác họ mà phải học cái của họ biến thành cái của ta”, GS Thịnh phân tách. Nhưng hiện nay việc quảng bá, bảo tồn giá trị văn hóa này vẫn bị xem nhẹ” – GS Ngô Đức Thịnh cho biết. “Tư tưởng “chín bỏ làm mười” có nhiều cái dở trong xã hội đương đại do vậy bên cạnh phát huy nguyên tố chữ tình trong cuộc sống với nhau nhưng phải trên cơ sở pháp luật, một nền văn hóa duy lý hay duy tình đều có mặt mạnh và mặt yếu nhất quyết vấn đề là chúng ta nhận thức được nó, phát huy được nó trong cảnh ngộ cố định”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết thêm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét